Phát triển Nông nghiệp đô thị bền vững - một số vấn đề cần đặt ra

Quá trình đô thị hóa diễn ra mạnh mẽ ở các vùng ven đô ở Việt Nam đang đặt ra vấn đề cần thiết phải có một chiến lược phát triển NNĐT trong tổng thể chiến lược quốc gia về phát triển bền vững.

Phát triển Nông nghiệp Đô thị là yêu cầu cấp thiết

Nông nghiệp Đô thị (NNĐT) xuất phát là mô hình tận dụng các diện tích nhỏ, các lô đất trống, sân vườn, thảm cỏ, ban công, sân thượng, nơi sinh hoạt cộng đồng trong các đô thị để trồng cây hoặc chăn nuôi gia cầm, gia súc nhỏ đáp ứng những nhu cầu thiết thực cho cư dân đô thị.

Dần dần với sự hỗ trợ của khoa học cộng nghệ và nhu cầu ngày càng cao của đời sống, mô hình này đã được quan tâm đầu tư trở thành một ngành kinh tế sinh thái giá trị cao trong và ven đô thị, bao gồm hoạt động sản xuất, chế biến và làm dịch vụ chuyên sâu về cây trồng nông nghiệp, vật nuôi phù hợp với điều kiện cụ thể của các đô thị được sử dụng phương pháp canh tác hữu cơ, công nghệ cao, giải pháp kỹ thuật truyền thống kết hợp với hiện đại có khả năng sử dụng và tái sử dụng tài nguyên thiên nhiên và chất thải đô thị...

hoa-16-26-40-169-1634581466.jpgMô hình NNĐT trong nhà kính tại tỉnh Bình Dương

Ở đó những loại cây trồng như rau, hoa, củ, quả, cây xanh, thảm cỏ, cây cảnh, cây trang trí, cây dược liệu, cây trồng nông nghiệp và sinh vật hữu ích khác, trước hết đáp ứng nhu cầu làm lương thực thực phẩm tươi sống an toàn và phục vụ hoạt động tiện tích cho đời sống của cư dân. Sau đó là giải pháp kiến tạo hệ sinh thái vi khí hậu từ làm đẹp cảnh quan kiến trúc môi trường đến kiến tạo không gian sống trong lành, không gian thư giãn nghỉ dưỡng và chăm sóc sức khỏe; giải pháp giảm tiếng ồn, ô nhiễm không khí, hiệu ứng nhà kính, bê tông hóa và những tác động tiêu cực khác của quá trình đô thị hóa góp phần cải thiện đời sống vật chất và tinh thần cho người dân.

Với đặc trưng là hoạt động sản xuất và phân phối tại chỗ nên thực phẩm từ NNĐT có chi phí vận chuyển, đóng gói và lưu trữ, tỉ lệ hao hụt do lưu trữ - vận chuyển giảm; tươi ngon, giàu dinh dưỡng và có giá cạnh tranh do giảm được các chi phí trung gian; chi phí sản xuất thấp và phát thải CO2 cũng giảm đáng kể.

Cùng với đó, NNĐT còn là giải pháp cân bằng giữa đời sống vật chất và hưởng thụ những giá trị tinh thần của cư dân đô thị. Những vòng xoay liên tục của cuộc sống bận rộn và áp lực công việc ở đô thị khiến con người không tránh khỏi những căng thẳng, âu lo; tâm trí bị nhiễu loạn từ tiếng còi xe, cảm xúc bị tù túng giữa rừng bê-tông, không khí không bị ô nhiễm vì khói bụi...Ngày qua ngày, những bất ổn đó tích tụ và dẫn đến tình trạng thiếu kiềm chế, mất kiên nhẫn, dễ nóng giận, những tổn thương tâm lý gây ra những hệ quả hiển nhiên cho cộng đồng.

Vì vậy, những không gian xanh từ NNĐT là những nhịp dừng tạm thời mang lại cơ hội cho con người được cân bằng cảm xúc để xoa dịu những thương tổn đó. Chính khi được hòa mình vào không gian xanh của NNĐT ngay chính trong không gian sống của mình như một chậu hoa cây cảnh trước khung cửa sổ, một mảnh vườn trồng rau xanh xinh xinh trên sân thượng cũng giúp con người tìm lại sự an yên thật sự vì được hít thở bầu không khí trong lành và cảm nhận được sự tĩnh lặng từ bên trong tâm hồn.

hoa1-1634583664.jpg

rau1-1634582260.jpgCác mô hình trồng rau, hoa, quả trên ban công sân thượng tại các đô thị ngày càng được quan tâm

Việt Nam là quốc gia đang phát triển nên quá trình đô thị hóa diễn ra mạnh mẽ ở các vùng đô thị lớn và khu vực nông thôn ven đô. Trên thực tế, các thành phố trực thuộc Trung ương như Hà Nội, TP. HCM, Đà Nẵng, Hải Phòng, Cần Thơ, các đô thị loại I trong giai đoạn 2010-2020 có xu hướng mở rộng không gian từ trung tâm lõi đô thị ra ngoại vi.

Tỷ lệ đô thị hóa ở Việt Nam tăng rất nhanh từ 19,6% với 629 đô thị năm 2009 lên khoảng 39,3% với 833 đô thị năm 2020. Mật độ dân số đô thị của Việt Nam đạt ở ngưỡng rất cao, nhất là các đô thị lớn như là Hà Nội với 2.398 người/km2 và TP. HCM với 4.292 người/km2. Tỷ cây xanh trên đầu người tại các đô thị Việt Nam ở mức từ 2 - 3 m2/người, mức rất thấp so với yêu cầu tối thiểu của Liên Hiệp Quốc đề ra là 10 m2/người. Trong khi, phần lớn các đô thị trên thế giới đã đạt 20 - 25 m2/người, nhiều đô thị hiện đại trong khu vực và trên thế giới từ 30 - 50m2/người như: Singapore 30,3 m2/người, Seoul (Hàn Quốc) 41 m2/người, Berlin (Đức) 50 m2/người, Moscow (Nga) là 44 m2/người, Paris (Pháp) 25 m2/người...

Cùng với đó, vấn đề ô nhiễm không khí, tiếng ồn và rác thải đô thị đã và đang là vấn đề cấp bách tại tác đô thị của Việt Nam. Các đô thị lớn như Hà Nội, TP Hồ Chí Minh, hay các đô thị có hoạt động công nghiệp mạnh như Việt Trì (Phú Thọ), ô nhiễm bụi vẫn còn ở ngưỡng cao, đặc biệt là các khu vực gần các trục giao thông chính. Tại các đô thị này, số ngày có chỉ số chất lượng không khí AQI ở mức kém, xấu (AQI=101-200), và rất xấu (AQI=201-300) chiếm tỷ lệ khá lớn. Điển hình như tại Hà Nội, số ngày trong năm 2014 có AQI ở mức kém chiếm tỷ lệ hơn 50% tổng số ngày quan trắc trong năm, thậm chí, có những ngày chất lượng không khí suy giảm đến ngưỡng rất xấu và nguy hại (AQI trên 300).

Ô nhiễm không khí gây ra bệnh tật, tức thời và lâu dài, là tác nhân ảnh hưởng nghiêm trọng đến chất lượng cuộc sống của người dân. Theo số liệu của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), năm 2006, trên thế giới có 777.000 người chết non do phơi nhiễm ô nhiễm bụi không khí, trong đó châu Á có 531.000 người chết, chiếm 68%.

Còn theo kết quả nghiên cứu của Đề tài Chương trình khoa học quốc gia số 23 do Cục Y tế, Bộ Giao thông Vận tải thực hiện trong hai năm 2011-2012, tỷ lệ số người bị mắc các bệnh đường hô hấp ở Hà Nội cao hơn TP. HCM từ 1,3-1,5 lần. Số liệu quốc tế cho thấy, năng suất lao động tăng khoảng 5% khi người ta làm việc trong môi trường không khí có chất lượng tốt, tiện nghi.

8x-1634582427.jpgMô hình trồng hoa lan ứng dụng công nghệ cao tại Hà Nội

Quá trình đô thị hóa diễn ra mạnh mẽ ở các vùng ven đô ở Việt Nam đang đặt ra vấn đề cần thiết phải có một chiến lược phát triển NNĐT trong tổng thể chiến lược quốc gia về phát triển bền vững để không chỉ đáp ứng nhu cầu của người dân về lương thực, thực phẩm tươi sống, an toàn và các nhu cầu tiện ích của cư dân, mà còn đáp ứng yêu cầu cấp bách về nhiệm vụ cải thiện môi trường sống trong lành, kiến tạo cảnh quan kiến trúc không gian đô thị thông minh, đáng sống cho hiện tại và tương lai.

Thực trạng và xu hướng phát triển Nông nghiệp Đô thị

Trên thế giới, từ cuối thế kỷ XX, NNĐT đã trở thành xu thế trong quá trình phát triển đô thị ở các quốc gia. Theo báo cáo hằng năm của Tổ chức Nông lương Liên hiệp quốc (FAO), năm 2008 “gần 1/3 lượng rau, quả, thịt, trứng cung ứng cho đô thị trên thế giới là từ NNĐT, 25 – 75% số gia đình ở thành phố phát triển theo mô hình NNĐT”.

Đến nay, nhiều đô thị trên thế giới đã phát triển mạnh về NNĐT với những thành công bước đầu tác động đến chất lượng cuộc sống của cư dân đô thị. Tiêu biểu phải kể đến ở Matxcơva (Nga) 65% gia đình có mô hình VAC đô thị, ở Dactxalam là 68%, Maputo 37%,…Tại Béclin (Đức), có 8 vạn mảnh vườn trồng rau ở đô thị; hàng vạn cư dân ở Niu Oóc (Hoa Kỳ) có vườn trồng rau trên sân thượng. Tại nhiều thành phố lớn của Trung Quốc như Bắc Kinh, Thượng Hải, Quảng Châu…,NNĐT, ven đô cung cấp tới 85% nhu cầu về rau xanh, 50% về thịt trứng của người dân.

Theo một báo cáo của Tổ chức Làm vườn quốc gia Hoa Kỳ, năm 2007, người dân Hoa Kỳ chi khoảng 1,4 tỷ USD cho việc trồng cây rau, quả tại nhà, tăng 25% so với năm 2006.

Tại Cu Ba phát triển mạnh mẽ NNĐT để cung ứng thực phẩm tươi sống tại chỗ cho cư dân đô thị, nhờ đó thủ đô Lahabana đã tự túc được đến 90% loại thực phẩm này. Năm 2008 có hơn 20 vạn thị dân Cu Ba làm việc trong ngành NNĐT sử dụng 140 km2 đất đô thị. Chương trình NNĐT của Cuba là một thành công ấn tượng. Các nông trại, trong đó nhiều nông trại nhỏ hiện là nguồn cung cấp phần lớn lượng rau cho Cuba. Các nông trại này cũng cung cấp khoảng 300.000 việc làm trên toàn Cuba với lương khá cao và làm thay đổi thói quen ăn uống ở một quốc gia vốn quen với chế độ ăn có gạo và đậu cùng các sản phẩm đóng hộp từ Đông Âu.

Theo tổ chức FAO, ngày nay, người Cuba nạp vào cơ thể khoảng 3.547 calo/ngày – hơn cả lượng calo mà chính phủ Mỹ khuyến cáo công dân Mỹ. GS Catherine Murphy, một nhà xã hội học đã có hàng chục năm nghiên cứu về các nông trại ở Lahabana nhận xét: “Đây là một mô hình thú vị nếu xét rằng Cuba là quốc gia có gần 80% dân số sống ở đô thị. Điều này chứng tỏ các thành phố có thể tự sản xuất lương thực mà vẫn đảm bảo các lợi ích xã hội và môi trường”.

Tại Cai Rô (Ai Cập) đầu thập kỷ 1990, một nhóm giáo sư nông nghiệp Trường Đại học Ain Shams phát triển phương pháp trồng rau trên sân thượng tại khu vực đô thị đông dân, mới đầu với quy mô nhỏ nhưng rồi được mở rộng nhanh sau khi có hậu thuẫn chính thức của FAO vào năm 2001.

Tại Mumbai (Ấn Độ) là một trong các thành phố có mật độ dân cao nhất thế giới, 48.215 người/km2. Trong bối cảnh thiếu đất, hiếm nước, đông người nghèo, Tiến sĩ Doshi đưa ra phương pháp làm vườn hữu cơ quy mô nhỏ trên ban công, thậm chí treo trên tường, trên cơ sở dùng bã mía trộn đất đựng trong túi nhựa hay trong các loại hộp, ống, lốp xe, để hộ dân có rau ăn tại gia và tăng thu nhập. Theo cách thức của ông, hộ gia đình có thể tự túc được 5kg rau quả mỗi ngày trong 300 ngày của năm.

lan-dot-bien-4-1634649177.jpg

Những mô hình nông nghiệp đô thị ứng dụng cộng nghệ cao trong sản xuất hoa cây cảnh

Ở Trung Quốc NNĐT đóng vai trò quan trọng trong việc nâng cao khả năng thích nghi của các thành phố, giải quyết rất tốt các vấn đề do đô thị hóa quá nhanh gây ra cho các đô thị, nhất là ở các thành phố đông cư dân như thủ đô Bắc Kinh và thành phố Thượng Hải.

Ở Việt Nam trong những năm vừa qua, khu vực ngoại thành các đô thị lớn đang thiếu các định hướng và công cụ quản lý cho giai đoạn quá độ chuyển đổi từ nông thôn lên đô thị. Đô thị hóa vùng nông thôn ven đô có nhiều biến động về nhân khẩu, đất đai dẫn đến cấu trúc nông thôn truyền thống bị phá vỡ đột ngột, hạ tầng quá tải gây nên những vấn nạn về môi trường; nhà ở, hạ tầng xã hội và hạ tầng kỹ thuật chưa kịp đáp ứng nhu cầu; đất đai xây dựng dàn trải thiếu kiểm soát, mất đất nông nghiệp, an ninh trật tự xã hội mất ổn định là những hệ lụy đang diễn ra tại các khu vực ven đô các thành phố lớn.

Trước thực trạng trên và để thích ứng với biến đổi khí hậu, Việt Nam đang nỗ lực học hỏi các nước, đẩy mạnh phát triển NNĐT phù hợp với điều kiện thực tế trong nước, để hướng đến phát triển một nền nông nghiệp bền vững. Một trong những bước đi chiến lược đầu tiên của Việt Nam là tập trung phát triển nông nghiệp công nghệ cao (CNC). Đây là nền nông nghiệp được ứng dụng kết hợp những công nghệ mới, tiên tiến để sản xuất, nhằm nâng cao hiệu quả, tạo bước đột phá về năng suất, chất lượng nông sản. Theo thống kê, cả nước đã có 5 khu nông nghiệp công nghệ cao ở Hậu Giang, Phú Yên, thành phố Hồ Chí Minh, Lâm Đồng và Bạc Liêu và 46 doanh nghiệp được cấp giấy chứng nhận Doanh nghiệp nông nghiệp ứng dụng CNC. Các khu nông nghiệp ứng dụng CNC chủ yếu tập trung thực hiện hoạt động ứng dụng thành tựu nghiên cứu và phát triển CNC vào lĩnh vực nông nghiệp để thực hiện các nhiệm vụ: Chọn tạo, nhân giống cây trồng, giống vật nuôi cho năng suất, chất lượng cao; Phòng, trừ dịch bệnh; Trồng trọt, chăn nuôi đạt hiệu quả cao; Tạo ra các loại vật tư, máy móc, thiết bị sử dụng trong nông nghiệp; Bảo quản, chế biến sản phẩm nông nghiệp; Phát triển doanh nghiệp nông nghiệp ứng dụng CNC và phát triển dịch vụ CNC phục vụ nông nghiệp. Cùng với đó, gói tín dụng thương mại phát triển nông nghiệp CNC, nông nghiệp sạch đã thu hút hơn 16.800 doanh nghiệp tham gia với khoản đầu tư hơn 39.000 tỷ đồng.

Mô hình canh tác lúa thông minh của Tập đoàn Rynan Holding JSC đã giúp giảm trên 30% lượng nước tưới; 50% nhân công, giống, sâu bệnh và trên 40% lượng phân bón, khí nhà kính cũng như giảm tác động do xâm nhập mặn; đồng thời, tăng lợi nhuận gần 20% so canh tác lúa thông thường. Bên cạnh đó là một loạt các mô hình sản xuất nông nghiệp thông minh khác như: Tưới nước thông minh, tự động bằng cảm biến được áp dụng ở Cần Thơ, Bến Tre; Làm phẳng mặt ruộng bằng công nghệ laser được áp dụng tại Long An, An Giang, Bạc Liêu; Mô hình luân canh lúa - tôm vùng ven biển được thực hiện ở Cà mau, Bạc Liêu, Sóc Trăng, Trà Vinh; Kỹ thuật tưới ướt - khô xen kẽ được thực hiện tại Cần Thơ, Hậu Giang, An Giang, Vĩnh Long, Đồng Tháp, Bạc Liêu…Nhất là ở các đô thị lớn có tốc độ đô thị hóa cao như: Hà Nội, TP. HCM, Đà Nẵng, Bình Dương…đã bước đầu quan tân đầu từ đúng mức cho phát triển NNĐT như một giải pháp cứu cánh cho các vấn đề phát sinh từ đô thị.

mo-hinh-trong-rau-thuy-canh-ket-hop-nuoi-ca-1634582661.jpg

Sơ đồ mô hình trồng rau thủy canh kết hợp với nuôi cá cảnh

Tại Hà Nội, từ lâu người dân đã trồng rau muống trên ao hồ kênh mương, nổi danh với húng Láng, rau Tây Tựu, đào Nhật Tân, cam Canh bưởi Diễn, cá rô Đầm Sét, tôm cá Hồ Tây, hoa Ngọc Hà…Thủ đô là địa bàn vừa sản xuất, vừa gắn với thị trường tiêu thụ lớn và có nhiều đơn vị nghiên cứu của Trung ương về nông nghiệp nên có lợi thế hơn hẳn các tỉnh, thành khác trong việc ứng dụng khoa học, kỹ thuật mới vào sản xuất. Điển hình như mô hình áp dụng khoa học kỹ thuật vào trồng, chăm sóc bưởi Diễn ở khu Chiến Thắng, thị trấn Xuân Mai (Chương Mỹ), Phương Đình (Đan Phượng) cho giá trị thu nhập đạt trên 150-200 triệu đồng/ha, mô hình trồng cam Canh ở Cao Viên (Thanh Oai) cho thu nhập 250-300 triệu đồng/ha, chăn nuôi bò sữa ở Ba Vì, Gia Lâm cho thu nhập hàng trăm triệu đồng/hộ/năm…Hà Nội còn có các doanh nghiệp lớn trong lĩnh vực chăn nuôi, nhiều nhà máy chế biến thức ăn, các cơ sở sản xuất giống giải quyết đầu ra cho nông sản...

Với vai trò là thủ đô của cả nước, hiện đang là thành phố có tốc độ đô thị hóa cao nhất. Nhiều vùng ven đô, ngoại thành cũ nay được nằm trong quy hoạch của các khu vực đô thị, các trung tâm kinh tế, chính trị mới của thủ đô trong tương lai gần, nhất là các khu vực thuộc tỉnh Hà Tây cũ. Đô thị hóa đã mang lại nhiều yếu tố tích cực cho sự phát triển của khu vực này như hệ thống cơ sở hạ tầng kỹ thuật được đầu tư nâng cấp, khả năng tiếp cận của người dân với các tiện ích xã hội như văn hóa, y tế, giáo dục được nâng cao, thu nhập của người dân được cải thiện đáng kể…

Tuy nhiên, đô thị hóa với tốc độ cao và mang tính tự phát cũng đã mang lại những ảnh hưởng tiêu cực đối với khu vực ven đô, ngoại thành cũ của thành phố. Quá trình đô thị hóa diễn ra đã dẫn đến sự phá vỡ cấu trúc làng xã đã được xây dựng từ lâu đời, làm mai một các yếu tố truyền thống. Đô thị hóa cũng là nguyên nhân cho sự suy thoái và thất truyền của những làng nghề và nghề truyền thống cùng những sản phẩm đặc trưng, hay việc biến mất, thoái hóa của nhiều giống cây trồng đặc sản quý…

Hà Nội mở rộng sau năm 2008 có diện tích trên 334.470 ha (gấp 3 lần trước đó) đã trở thành địa phương lớn với số dân hơn 8,4 triệu người. Từ yêu cầu phát triển kinh tế xã hôi, mức tiêu thụ nông sản thực phẩm hàng tháng của thành phố đã lên tới trên 300 nghìn tấn với chừng 103 nghìn tấn rau củ quả, 93 nghìn tấn gạo, 25 nghìn tấn thịt, 5,1 nghìn tấn thủy hải sản, 5 nghìn tấn thịt chế biến từ gia súc, gia cầm…Với nhu cầu này, sản xuất nông nghiệp Thủ đô mới tự đáp ứng được 30% về gạo, 55% về rau-củ-quả và chừng 3% về thủy, hải sản…Phần lớn lượng thiếu hụt phải nhớ vào các địa phương khác trong cả nước. Từ đây, nhiệm vụ đặt ra đối với nông nghiệp thành phố còn rất nặng nề. Cùng với phát triển nông nghiệp để đáp ứng nhu cầu lương thực thực phẩm, vấn đề lớn đặt ra trong quá trình phát triển Thủ đô là NNĐT.

Mặc dù gần 10 năm về trước tại Quyết định số 17/2012/QĐ-UBND ngày 09/7/2012 của UBND thành phố về việc phê duyệt “Quy hoạch phát triển nông nghiệp TP Hà Nội đến năm 2020, định hướng 2030”, Hà Nội đã xác định phát triển nông nghiệp theo hướng nông nghiệp đô thị sinh thái là định hướng cơ bản của ngành kinh tế quan trọng này. Tuy nhiên, đến nay, theo đánh giá của nhiều chuyên gia, thì ngành nông nghiệp của Thủ đô vẫn chưa xác định rõ phương hướng phát triển. Vẫn chưa phân biệt được loại hình nông nghiệp mà Hà Nội đang xây dựng và phát triển là nông nghiệp đô thị sinh thái hay là nông nghiệp truyền thống; Loại hình nông nghiệp công nghệ cao hay mô hình nông nghiệp hữu cơ? Mô hình nông nghiệp quy mô lớn hay mô hình kinh tế hộ…

NNĐT tại Thủ đô cần được xác định vừa là động lực, vừa là công cụ thích hợp để huy động các nguồn lực xã hội một cách đồng bộ giải quyết những bất cập nêu trên. Hà Nội đang khẩn trương rà soát điều chỉnh, bổ sung và hoàn thành quy hoạch phát triển nông nghiệp và xây dựng nông thôn; xây dựng thị trường tiêu thụ nông sản ổn định với hệ thống cơ sở thương mại đều khắp ở các vùng; khuyến khích các tổ chức, cá nhân hợp tác trực tiếp với nông dân, hợp tác xã sản xuất các loại nông sản chất lượng cao dần thay thế các sản phẩm nhập khẩu và phục vụ xuất khẩu; đẩy mạnh dồn điền đổi thửa; nâng cao trình độ sản xuất cho nông dân; tái cấu trúc ngành nông nghiệp theo hướng nâng cao giá trị gia tăng gắn với mục tiêu phát triển nhanh, mạnh và bền vững.

raujpg-1634583073.crdownloadMô hình nông nghiệp hữu cơ tại huyện Đông Anh, Hà Nội

NNĐT tại TP.HCM trong những năm qua tập trung tái cơ cấu ngành nông nghiệp và chuyển dịch cơ cấu ngành theo hướng nông nghiệp công nghệ cao. Đặc biệt, tập trung phát triển các sản phẩm chủ lực của thành phố, nhằm tăng năng suất, chất lượng nông sản và có thị trường tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp ổn định. TPHCM đã có nhiều giải pháp như xây dựng chính sách hỗ trợ phát triển NNĐT, áp dụng kỹ thuật hiện đại vào sản xuất để tăng năng suất và chất lượng nông sản, đầu tư các vùng sản xuất nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao...

Qua quá trình triển khai thực hiện, TP.HCM tiếp tục hoàn thiện các chương trình, cơ chế, chính sách về phát triển NNĐT như chương trình phát triển nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao, chính sách khuyến khích chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp, chính sách hỗ trợ sản xuất theo quy trình VietGAP, tiêu chí công nhận vùng nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao... Đó là những chính sách nòng cốt hỗ trợ người dân yên tâm sản xuất nông nghiệp, mở rộng đầu tư ứng dụng công nghệ hiện đại.

TP.HCM đã ban hành Quyết định 655 về khuyến khích chuyển dịch cơ cấu NNĐT trên địa bàn thành phố có hiệu lực đến cuối năm 2020. Trong đó, đối với đầu tư sản xuất hoa lan, cây kiểng, cá cảnh, bò sữa, bò thịt hoặc nuôi trồng thủy sản khai thác hiệu quả nguồn nước kênh Đông được ngân sách thành phố hỗ trợ 80% lãi suất. Còn đối với đầu tư, sản xuất các loại cây trồng vật nuôi khác; ký kết hợp đồng sản xuất và tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp; mua nguyên nhiên vật liệu phát triển ngành nghề nông thôn; khai thác đánh bắt thủy sản không mang tính lạm sát; sản xuất thức ăn chăn nuôi hoặc phát triển du lịch sinh thái được hỗ trợ 60% lãi suất.

TP.HCM cũng chú trọng đầu tư vào các hạng mục tại Trung tâm công nghệ sinh học, Khu nông nghiệp công nghệ cao. Tập trung vào phát triển sản xuất các loại giống cây, giống con chất lượng cao, ứng dụng công nghệ cao, công nghệ sinh học kết hợp du lịch sinh thái. Qua đó, góp phần tăng năng suất, chất lượng và mở rộng thị trường tiêu thụ.

Cùng với đó, TP.HCM cũng triển khai một số dự án xây dựng Khu nông nghiệp công nghệ cao trong lĩnh vực trồng trọt - sau thu hoạch tại xã Phước Vĩnh An, huyện Củ Chi và Khu nông nghiệp công nghệ cao trong lĩnh vực thủy sản tại huyện Cần Giờ. Đồng thời, kết hợp quy hoạch vùng sản xuất nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao và công bố công khai quy hoạch chi tiết các vùng sản xuất rau, hoa, cây cảnh, chăn nuôi, thủy sản tập trung để kêu gọi các cá nhân, doanh nghiệp đầu tư. Đến nay TP đã có 2.500ha trồng hoa cây kiểng với giá trị mang lại 1.750 tỷ đồng/năm; đạt 400ha cá kiểng, tiêu thụ trong nước 1.500 tỷ đồng, xuất khẩu hơn 15 triệu USD/năm. Tuy nhiên, sinh vật cảnh TPHCM mới đáp ứng được 30% nhu cầu, còn lại phải đưa về từ các tỉnh, thành khác và nhập khẩu khoảng 20 triệu USD/năm. Do đó, sinh vật cảnh rất có tiềm năng phát triển trong tái cơ cấu ngành kinh tế NNĐT.

Để phát triển nông nghiệp thành phố theo hướng phát triển NNĐT bền vững, TP.HCM cần tiếp tục có chính sách ưu đãi đối với các hộ cá thể, doanh nghiệp, hợp tác xã tập trung sản xuất những cây con chủ lực của thành phố. Khắc phục, tháo gỡ những khó khăn mà các đối tượng hoạt động trong lĩnh vực nông nghiệp gặp phải, tạo điều kiện thuận lợi cho phát triển NNĐT.

Tỉnh Bình Dương là một trong những tỉnh có tốc độ đô thị hóa cao nhất nước. Chính vì thế, nông nghiệp đô thị sớm được tỉnh quan tâm, giá trị sản xuất nông nghiệp vẫn liên tục tăng cao. Tỉnh Bình Dương xác định NNĐT phát triển phải trên cơ sở ứng dụng công nghệ cao, nâng cao giá trị sử dụng đất, sức cạnh tranh của sản phẩm và bảo đảm môi trường. Đề án phát triển nông nghiệp đô thị vùng phía Nam tỉnh Bình Dương giai đoạn đến năm 2020 chỉ rõ, trong giai đoạn 2016-2020 nông nghiệp trên địa bàn phía Nam của tỉnh Bình Dương sẽ phát triển theo hướng nông nghiệp đô thị, ứng dụng công nghệ cao, góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế trên địa bàn và khai thác tốt các nguồn lực sẵn có ở đô thị.

Trong đó, những loại hình phù hợp với đô thị cần ưu tiên phát triển gồm nhóm loại hình trồng rau thực phẩm; cây trồng và kinh doanh sinh vật cảnh; phát triển cây xanh đô thị và dịch vụ nông nghiệp…Ước tính, tổng giá trị sản xuất trên địa bàn vùng phía Nam của tỉnh Bình Dương đến năm 2020 đạt 3.783 tỷ đồng; giá trị sản phẩm thu được trên 1 ha đất trồng trọt đạt 98 triệu đồng; giá trị sản phẩm thu được trên 1 ha mặt nước nuôi trồng thủy sản đạt 1,6 tỷ đồng.

Thực hiện chương trình chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp theo hướng nông nghiệp đô thị, sản xuất nông nghiệp trên địa bàn tỉnh Bình Dương đã phát triển nhanh về số lượng cơ sở và quy mô diện tích. Nhiều tiến bộ khoa học - kỹ thuật được ứng dụng rộng rãi, tỷ lệ sử dụng giống mới có năng suất, chất lượng cao đạt từ 80% đến 100%. Trên địa bàn tỉnh Bình Dương đã hình thành 4 khu nông nghiệp công nghệ cao với diện tích gần 1.000 ha và hơn 860 ha ứng dụng kỹ thuật mới vào trồng trọt, chăn nuôi. Các mô hình nông nghiệp mới trên địa bàn tỉnh Bình Dương đã bước đầu mang lại hiệu quả kinh tế khá, tạo nguồn thu nhập cao cho nông dân.

TP. Đà Nẵng là một trong những địa phương có những mô hình nông nghiệp đô thị khá độc đáo. Mấy năm gần đây, nhất là khi chỉ thị của UBND TP Đà Nẵng về cấm nuôi gia súc, gia cầm ở khu vực nội thị có hiệu lực, việc chuyển đổi cơ cấu cây trồng – vật nuôi diễn ra khá sôi động. Việc ứng dụng CNC vào sản xuất NNĐT cũng đã được TP. Đà Nẵng tập trung thực hiện như: chuyển giao các quy trình kỹ thuật canh tác, chăn nuôi tiên tiến; kỹ thuật xử lý sâu bệnh hại; tưới tiết kiệm, xử lý môi trường trong chăn nuôi…đã góp phần nâng cao trình độ sản xuất, thay đổi tập quán sản xuất của người dân.

Thành quả đáng kể nhất là nghề làm sinh vật cảnh, trồng rau mầm, nấm ăn phát triển nhanh, tạo ra sản phẩm có giá trị. Cũng từ đây, hàng trăm nông dân tiếp cận với nghề trồng hoa, cây cảnh và có cơ hội làm giàu. Trung tâm khuyến ngư-nông-lâm Đà Nẵng cùng Phòng Kinh tế quận Hải Châu đã mở hàng chục lớp tập huấn kỹ thuật cho nông dân. Nhờ vậy, mô hình trồng hoa cây cảnh ở Đà Nẵng phát triển rất nhanh. Hiện quận, huyện nào cũng có Hội Sinh vật cảnh và khu trưng bày sản phẩm. Có hộ trồng tới 10.000 chậu cúc/vụ, hơn 5.000 gốc mai cảnh, thu nhập 300-400 tỷ đồng/năm. Ngoài nghề trồng hoa, cây cảnh, việc sản xuất rau xanh phục vụ cho thành phố cũng được ưu tiên phát triển và mang lại hiệu quả cao.

Tuy nhiên, NNĐT tại Đà Nẵng chỉ mới dừng lại ở một số mô hình, chưa tạo sự phát triển đột phá để nâng cao giá trị gia tăng, phát triển bền vững. Nghị quyết 43 của Bộ Chính trị về xây dựng và phát triển Đà Nẵng đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045 xác định nông nghiệp công nghệ cao (NNCNC) là một trong những lĩnh vực mũi nhọn cần ưu tiên nguồn lực để phát triển.

Để thực hiện mục tiêu đó, thành phố Đà Nẵng đã tập trung nhiều giải pháp, ban hành chính sách hỗ trợ, khuyến khích để thu hút đầu tư vào lĩnh vực này, hoàn thành quy hoạch chi tiết 03 vùng NNCNC tại Hòa Khương, Hòa Phú, Hòa Phong, hiện đang xúc tiến, thu hút doanh nghiệp đầu tư vào NNCNC. Theo quy hoạch, phân khu nông nghiệp ứng dụng CNC là 2.986ha, tập trung tại huyện Hòa Vang, lĩnh vực trọng tâm là rau, hoa, nấm và giống cây trồng.

Với phương châm “đi ngay, đi nhanh và đi chính xác, lựa chọn cây trồng, vật nuôi có lợi thế so sánh, công nghệ ứng dụng phù hơp với mục tiêu sản xuất kinh doanh là chính”; Lâm Đồng là địa phương thuộc “TOP” đầu cả nước về NNĐT, nông nghiệp thông minh 4.0. Toàn tỉnh Lâm Đồng hiện có 21 doanh nghiệp đã tiếp cận ứng dụng công nghệ IoT; big data; Blockchain; camera theo dõi sự sinh trưởng của cây, các loại thiết bị cảm biến môi trường, nhà kính có hệ thống tự động điều chỉnh; hệ thống cảm biến kết nối computer, smartphone, công nghệ đèn LED, công nghệ GIS... nhằm tận dụng tối đa lợi thế, phát triển nền nông nghiệp hiện đại. Đến nay, toàn tỉnh Lâm Đồng có gần 200 ha diện tích áp dụng quy trình sản xuất nông nghiệp thông minh 4.0 với những giải pháp phù hợp để tăng năng suất và giá trị sản phẩm cây trồng, vật nuôi; điển hình một số doanh nghiệp như: Công ty Dalat Hasfarm, Công ty cổ phần chè Cầu Đất Đà Lạt,…Sự mạnh dạn và nhanh chóng lựa chọn hướng đi nông nghiệp thông minh đã giúp nông nghiệp Lâm Đồng đạt được nhiều kết quả tích cực. Nhiều doanh nghiệp, nông dân của tỉnh có thu nhập hàng tỷ đồng; giá trị nông sản cao hơn 1,5-2 lần so với cây trồng canh tác truyền thống; góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng đất, nâng cao thu nhập cho nông dân và doanh nghiệp; chi phí lao động giảm, góp phần hạ giá thành sản phẩm, nâng cao năng lực cạnh tranh; kiểm soát được môi trường; đảm bảo cung ứng sản phẩm đáp ứng nông sản an toàn và thúc đẩy các đề án khởi nghiệp phát triển.

g8a-jakob-factory-16-oki-hiroyuk-1599671199-1634583371.jpg

g8a-jakob-factory-12-oki-hiroyuk-1599671197-1634583400.jpgNgày càng có nhiều các công trình xanh, không gian nghỉ dưỡng tại các đô thị lớn của Việt Nam

Phát triển Nông nghiệp Đô thị bền vững, một số vấn đề đặt ra

Quá trình đô thị hóa phần lớn các đô thị ở Việt Nam đang diễn ra theo hướng mở rộng quy mô là chủ yếu, chưa quan tâm tới sự phát triển đồng bộ các yếu tố kinh tế, xã hội, văn hóa, trình độ quản lý đô thị với vai trò động lực cho đô thị hóa phát triển bền vững. Vì vậy, định hướng phát triển NNĐT bền vững trong tổng thể các ngành kinh tế đô thị cần phải chú ý tới một số vấn đề đặt ra như sau:

Thứ nhất, vai trò của NNĐT phải được xác định rõ gắn với chiến lược phát triển bền vững của các đô thị trong tiến trình đô thị hóa. NNĐT góp phần khắc phục những mặt trái của quá trình đô thị hóa như: vấn đề di dân nông thôn ra thành thị; tình trạng thất học, thất nghiệp và phân hoá giàu nghèo; vấn đề nhà ở và quản lý trật tự an toàn xã hội ở đô thị; vấn đề hệ thống cơ sở hạ tầng quá tải và ô nhiễm môi trường; vấn đề an toàn về lương thực, thực phẩm, vấn đề cảnh quan đô thị, bảo tồn các giá trị văn hóa truyền thống trong không gian đô thị hiện đại…NNĐT cần phải được thể chế hóa thành những chính sách ưu tiên, khuyến khích thu hút các nguồn lực xã hội đầu tư với vai trò là động lực nội quyết định sự phát triển nhanh, mạnh và bền vững của các đô thị của Việt Nam.

Thứ hai, NNĐT phải được định hình là một ngành kinh tế sinh thái giá trị cao không chỉ đáp ứng nhu cầu lương thực thực phẩm an toàn tại chỗ, mà còn kết nối các giá trị kinh tế, văn hóa, xã hội, môi trường và góp phần cải thiện đời sống vật chất và tinh thần của người dân. NNĐT không chỉ giải quyết được bài toán đưa công nghệ mới, công nghệ cao vào sản xuất, gia tăng sản lượng, chất lượng sản phẩm cây trồng, vật nuôi trong bối cảnh quỹ đất nông nghiệp ngày càng bị thu hẹp mà còn có thể phát triển các mô hình nông nghiệp chuyên biệt để cung ứng dịch vụ cho đô thị như: Cây xanh, thực phẩm an toàn cho khách sạn, dịch vụ du lịch, nghỉ dưỡng…Để thực hiện các chức năng môi trường, điều hòa không khí, thì NNĐT phải chú trọng phát triển nông nghiệp hữu cơ - tuần hoàn có thể tái sử dụng chất thải đô thị để làm phân bón, nước tưới cho cây trồng vật nuôi; nông nghiệp tạo ra hệ thống cảnh quan như hệ thống cây xanh, công viên, các vành đai xanh ven đô, ao hồ điều hòa…

Thứ ba, NNĐT phải hướng đến xây dựng một nền nông nghiệp thông minh tích hợp các công nghệ tiên tiến cho năng suất cây trồng vật nuôi vượt trội, đảm bảo chất lượng sản phẩm ổn định, an toàn cho sức khỏe con người, thân thiện môi trường. Nông thông minh đang là xu hướng phát triển tất yếu của thời đại nhằm giải quyết những bất cập của các mô hình nông nghiệp truyền thống. Tuy nhiên, Việt Nam đến nay chưa có mô hình Nông nghiệp thông minh hoàn chỉnh, đầy đủ theo khái niệm về Nông nghiệp 4.0. Hiện tại, mô hình này mới áp dụng ở một số lĩnh vực và phạm vi cụ thể do hạ tầng kỹ thuật chưa đồng bộ. Vì vậy, trong quá trình hoạch định và triển khai những chính sách phát triển NNĐT cần xác định rõ mục tiêu phù hợp với từng giai đoạn cụ thể.

Thứ tư, NNĐT phải có mục tiêu xuyên suốt là tạo ra sự phát triển cân bằng và bền vững, kết nối không gian đô thị và nông thôn, giá trị truyền thống và hiện đại, đồng thời thúc đẩy lối sống hòa đồng của con người với thiên nhiên. Sự phát triển của khoa học công nghệ một mặt tạo ra vô vàn những tiện ích cho đời sống con người, mặt khác cũng đặt ra những hệ lụy đe dọa đến sự tồn vong của chính con người và sự sống trên hành tinh xanh. Đó là tình trạng suy kiệt các nguồn tài nguyên thiên nhiên, hủy hoại môi trường sống trong lành; hình thành những hiện tượng thiên nhiên cực đoan; phát sinh những dịch bệnh lạ, những căn bệnh thời đại đang hàng ngày hàng giờ hủy hoại chất lượng đời sống con người. Từ đó đòi hỏi con người phải điều chỉnh lại hành vi của mình, hình thành lối sống hài hòa với thiên nhiên hơn để từng bước tạo ra sự phát triển cân bằng và bền vững. NNĐT là quá trình giúp con người tiến tới mục tiêu cao đẹp đó.

Thứ năm, NNĐT là một quá trình thay đổi từ nhận thức đến hành động về phương thức, điều kiện và phạm vi không gian tổ chức sản xuất nông nghiệp truyền thống sang nông nghiệp hiện đại. Nó phản ánh trình độ phát triển của xã hội. Vì vậy, ngoài việc chú trọng xây dựng cơ sở hạ tầng kỹ thuật, quy hoạch phát triển ngành và tổ chức không gian đô thị; xây dựng các chính sách khuyến khích thu hút đầu tư phát triển, thì cần tập trung đẩy mạnh hoạt động đào tạo nguồn nhân lực, chuyển giao khoa học kỹ thuật và tuyên truyền nâng cao nhận thức, thay đổi những thói quen, tập quán xấu và có những nhận thức mới về đô thị hiện đại, phát triển bền vững gắn với nông nghiệp công nghệ cao, đô thị